Đầu tư cổ phiếu là gì? Kiến thức cơ bản trong đầu tư

0
278

Đầu tư cổ phiếu đang là một xu hướng tận dụng nguồn vốn phổ biến hiện nay nhờ vào khả năng tạo ra lợi nhuận hấp dẫn. Tuy nhiên, người đầu tư cần phải am hiểu về thị trường, có kiến thức phân tích tài chính mới có thể đạt được hiệu quả. Đối với những ai mới tham gia thị trường và trông đợi vào sự may mắn thì lĩnh vực đầu tư cổ phiếu tồn tại rủi ro thua lỗ rất cao.

1. Đầu tư cổ phiếu là gì?

Về bản chất, đầu tư chứng khoán hay đầu tư cổ phiếu chính là quá trình chúng ta bỏ tiền của mình để mua các loại cổ phiếu được các doanh nghiệp, công ty niêm yết trên sàn. Nhà đầu tư thu được lợi nhuận từ sự tăng giá giữa lúc mua và bán, và cổ tức cuối năm.

Bản chất của hoạt động đầu tư cổ phiếu.
Bản chất của hoạt động đầu tư cổ phiếu.

Hiểu thêm về đầu tư chứng khoán là gì?

Những mã cổ phiếu chính là các loại tài sản được đại diện bởi những giấy tờ có giá thể hiện quyền sở hữu cổ phần doanh nghiệp. Trong nền kinh tế, đa số những doanh nghiệp hiện tại muốn mở rộng quy mô phát triển đều lựa chọn phát hành cổ phiếu nằm để huy động vốn. Cổ phiếu chính là tài sản thể hiện quá trình góp vốn của cổ đông vào doanh nghiệp. Chính vì thế, về phía doanh nghiệp họ sẽ không có trách nhiệm phải hoàn tại phần vốn đó cho những ai có ý định đầu tư vào công ty qua hình thức mua cổ phiếu.

Hiện tại, quá trình đầu tư cổ phiếu hầu hết đều được diễn ra thông qua các ứng dụng trên thiết bị thông minh như máy tính hay điện thoại. Những trader, nhà đầu tư chỉ cần có kết nối internet đã có thể tham gia thị trường dù ở trong hay ngoài nước.

Những hoạt động giao dịch cổ phiếu đều được quản lý bởi những cơ quan chức năng. Như ở tại thị trường ngoài nước chúng ta có sở giao dịch CK New York hay Sở giao dịch CK London… Trong thời điểm công nghệ chưa phát triển, nhà đầu tư cần phải tới tận nơi mới có thể thực hiện mua bán cổ phiếu, giao dịch qua lại với trader khác trên thị trường.

2. Những lý khó để bạn nên tìm hiểu và đầu tư cổ phiếu

2.1 Lợi nhuận cao trong dài hạn

Những cá nhân sở hữu một lượng cổ phiếu bất kỳ đồng nghĩa với cá nhân đó đang nắm giữ một phần của doanh nghiệp. Lợi nhuận trung bình của việc gửi tiền ngân hàng thường cao nhất ở mức 7%/năm. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nếu đạt được sự tăng trưởng ổn định sẽ ghi nhận được mức lợi nhuận từ 20%/năm. Điều mà nhà đầu tư cần làm đó là phân tích và tìm ra được những doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng tốt và mua cổ phiếu. Nếu doanh nghiệp đó có quá trình phát triển ổn định, đạt mức tăng trưởng tốt, lợi nhuận mà nhà đầu tư thu về sẽ từ giá trị của cổ phiếu tăng cao cùng với cổ tức nếu đầu tư dài hạn.

2.2 Tài sản có thanh khoản cao

Chứng khoán có tính thanh khoản tốt sau tiền mặt.
Chứng khoán có tính thanh khoản tốt sau tiền mặt.

Tính thanh khoản luôn là vấn đề được mọi người quan tâm vì nó thể hiện tốc độ chuyển đổi tài sản thành tiền. Khi một mặt hàng nào đó được bày bán, hàng hóa chỉ được tiêu thụ khi trên thị trường có người muốn bỏ tiền ra mua nó. Tương tự như vậy, thị trường chứng khoán hiện lại là nơi tập trung của nhiều loại mặt hàng theo từng nhu cầu đầu tư cổ phiếu khác nhau.

Một lệnh được thực hiện với tốc độ cao chứng tỏ tính thanh khoản của cổ phiếu đó tốt vì thế bạn thường sẽ nghe đến một khái niệm đó là khớp lệnh ngay lập tức. Tóm lại, chứng khoán hiện tại là loại tài sản có thể đổi thành tiền với tốc độ rất nhanh.

2.3 Chứng khoán là kênh đầu tư linh hoạt

Những nhà đầu tư không cần phải có quá nhiều tiền mới có thể bắt đầu tham gia thị trường. Không giống như lĩnh vực BĐS, số vốn cần phải bỏ ra có thể lên tới 1 tỷ hay vài tỷ đồng. Đối với chứng khoán, vài triệu đồng là bạn đã có thể đầu tư vào cổ phiếu. Ngoài ra, ngươi nắm giữ cũng không cần phải đợi từ 1 hay kéo dài hàng năm để đạt được mức sinh lời rồi mới bán chúng. Khoảng thời gian ít nhất để nhà đầu tư giao dịch cổ phiếu, hay giữ cổ phiếu thường sẽ từ 2 ngày. Khi giá trị cổ phiếu đạt kỳ vọng, bạn đã có thể giao dịch nó ở bất cứ thời điểm nào.

3. Rủi ro khi đầu tư cổ phiếu

3.1 Rủi ro kinh tế, xã hội

Dưới góc nhìn chung của một nền kinh tế, thị trường sẽ có tác động đến đời sống xã hội, thị trường tài chính, chứng khoán cũng nằm trong số đó. Khi diễn ra những biến động dù tích cực hay tiêu cực các sản phẩm trên sàn đều cũng có sự thay đổi dựa trên tình hình kinh tế và những quy định của nhà nước. Khi thị trường đạt được một sự ổn định, đây sẽ là điều kiện để phát triển kinh tế, giá trị của cổ phiếu sẽ được thúc đẩy, tăng trưởng.

Ngược lại, khi nền kinh tế chung bị khủng hoảng, xã hội có sự biến động, bất ổn… Cổ phiếu, chứng khoán cũng sẽ bị ảnh hưởng xấu từ nguồn cung tiền giảm, giá trị của thị trường chứng khoán sẽ lao dốc.

Tình hình kinh tế ảnh hưởng đến giá trị của cổ phiếu.
Tình hình kinh tế ảnh hưởng đến giá trị của cổ phiếu.

3.2 Rủi ro ngành

Những mã cổ phiếu đều đại diện cho các lĩnh vực trong nền kinh tế, đại diện cho các doanh nghiệp trong một nhóm ngành nghề. Không có lĩnh vực nào tránh được sự tác động của thị trường, rủi ro tồn tại trong ngành. Theo chu kỳ hoạt động, bất cứ lĩnh vực nào cũng sẽ có tồn tại điểm yếu và điểm mạnh.

Ở tình huống tốt đẹp, linh vực trên thị trường sẽ phát triển khi nhận được những chính sách có lợi, nhu cầu của khách hàng tăng cao giúp giá cổ phiếu cũng vì thế mà phát triển. Nhưng ở các diễn biến xấu khi tin tức không tốt về ngành xuất hiện, giá trị của cổ phiếu cũng sẽ vì thế mà sụt giảm.

3.3 Rủi ro hoạt động doanh nghiệp

Mỗi mã cổ phiếu sẽ đại diện cho một công ty, tập đoàn trên thị trường, giá trị của nó cũng biến động theo tình hình kinh doanh, sản xuất thực tế của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng tốt, doanh thu, lợi nhuận khả quan, khả năng sử dụng vốn, vay nợ phù hợp sẽ là những yếu tố tạo nên sự tăng trưởng cho cổ phiếu. Nhà đầu tư cổ phiếu sẽ sở hữu giá trị cổ tức cuối năm với mức phần trăm cao khi doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.

Ngược lại, khi tổ chức kinh doanh thua lỗ, nợ xấu xuất hiện, quá trình sử dụng nguồn lực không tốt sẽ làm giá trị của cổ phiếu sụt giảm. Không có cổ tức cuối năm nếu tình huống này xảy ra.

3.4 Rủi ro thị trường

Một thị trường chứng khoán không chỉ có người đầu tư mà còn có nhiều chủ thể khác nữa bao gồm cơ quan quản lý, nhà đầu tư tổ chức, cá nhân, môi giới dịch vụ… Chính vì thế những tác động của các chủ thể cũng sẽ tạo ra nhiều sự biến động trên thị trường chung.

Trong đó những yếu tố thị trường gây ra những rủi ro có thể kể đến như tâm lý của người đầu tư cổ phiếu, tính thanh khoản, những rủi ro pháp lý,… Những tác nhân này sẽ dẫn đến các loại rủi ro nếu chúng xuất hiện trên thị trường. Trong trường hợp những quy định về chứng khoán chưa thật sự chặt chẽ có thể dẫn đến những cơ hội cho các đối tượng trục lợi, thao túng giá cổ phiếu. Khiến thị trường hoang mang, từ đó tạo nên hiệu ứng đám đông làm lượng tiền trong lưu thông bị giảm sút khiến giá trị chung của thị trường bị ảnh hưởng.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây